| Công nghệ mới hỗ trợ phòng chống sốt rét. |
|
Hệ thông tin địa lý (GIS) đã bước đầu được ứng dụng trong công tác y tế nói chung và phòng chống sốt rét nói riêng với mục tiêu giám sát, quản lý và dự báo dịch bệnh. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực mới cần được đầu tư nhiều hơn cả về nhân lực và tài chính. Phóng viên (PV) báo Sức khỏe & Đời sống đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Lê Xuân Hùng- Phó viện trưởng Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương về GIS trong công tác phòng chống sốt rét ở Việt Nam.
PV: Hiện nay, GIS đã được ứng dụng trong công tác phòng chống sốt rét ở nước ta, vậy nó đóng vai trò như thế nào trong công tác này, thưa PGS? PGS.TS. Lê Xuân Hùng: Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác, gồm có: bản đồ nền (basemaps) là bản đồ dữ liệu với các thông số địa lý chủ yếu (thảm thực vật, rừng, đường biên giới, sông hồ, độ cao, thôn bản, đường giao thông...); cơ sở dữ liệu (databases) là các thông tin, số liệu về một lĩnh vực chuyên ngành, ví dụ trong y tế: kết quả điều tra bệnh tật, dân số, hệ thống giám sát, các chỉ số đánh giá...; phần mềm vẽ bản đồ, số liệu được kết nối với bản đồ. GIS có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, quản lý và ứng phó với bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên đối với y tế thì ứng dụng GIS vẫn đang còn là một công nghệ mới mẻ ở Việt Nam. Trong phòng chống bệnh sốt rét ở nước ta, đã có một số nghiên cứu ứng dụng GIS để theo dõi, giám sát diễn biến dịch tễ và dự báo nguy cơ xảy dịch. Kết quả của các nghiên cứu cho thấy các yếu tố tự nhiên, môi trường... có liên quan chặt chẽ đến lan truyền bệnh sốt rét. Tư liệu viễn thám, các phương pháp xử lý sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, khách quan như chỉ số thảm thực vật (NDVI), sự thay đổi của chỉ số này đi cùng với các chỉ số khác như địa lý, khí hậu, lượng mưa và cũng cho chúng ta biết được sự phân bố, vị trí của các ca bệnh trên bản đồ địa lý. GIS là công cụ hữu hiệu để xác định các yếu tố tự nhiên, môi trường, xã hội nói trên, làm cơ sở cho xây dựng bản đồ nguy cơ sốt rét, xây dựng hệ thống giám sát và dự báo dịch sớm, từ đó có biện pháp phòng chống hiệu quả. Đưa công nghệ GIS vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và mức độ lưu hành của bệnh sốt rét trong chương trình phòng chống sốt rét ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề thực tiễn và cần thiết, giúp cán bộ y tế dự báo, giám sát tình hình bệnh, từ đó có biện pháp ngăn chặn nguy cơ xảy dịch, bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. PV: GIS có hạn chế gì không và triển vọng của nó trong phòng chống bệnh sốt rét như thế nào, thưa PGS? PGS.TS. Lê Xuân Hùng: Khó khăn trong ứng dụng công nghệ hiện nay đối với ngành y tế nói chung và phòng chống sốt rét nói riêng là việc sử dụng các số liệu cơ bản về địa lý (thôn bản, cơ sở y tế...), thiếu cán bộ sử dụng thành thạo thông tin địa lý. Thiếu phương tiện như máy tính và nghèo thông tin... Đầu tư cho GIS tốn nhiều thời gian, công sức và cả nguồn kinh phí (đặc biệt là dữ liệu ảnh vệ tinh). Mặt khác hầu hết các phần mềm GIS còn phức tạp và cồng kềnh, đòi hỏi cán bộ thực hiện công việc này phải được được đào tạo, tập huấn và có kiến thức nhất định về tin học. Phòng chống sốt rét phải có những phương pháp tiếp cận mới trong hệ thống thông tin nhằm phát hiện và dự báo những diễn biến bất thường của bệnh. Hệ thống giám sát dịch tễ và dự báo dịch sớm dựa vào màng lưới hệ thống y tế, cơ sở dữ liệu đa ngành hiện tại tuy đã có nhiều hiệu quả, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giám sát dịch bệnh, đặc biệt là hiện nay những thách thức lớn mà chúng ta đang phải đối mặt như giao lưu dân số, ô nhiễm môi trường, phá rừng, thiên tai... chiếm một không gian địa lý quan trọng. Để có được kết quả tốt hơn, hiện nay công nghệ viễn thám (remote sensing) với những hình ảnh vệ tinh và hệ thông tin địa lý GIS đang dần được ứng dụng để giám sát các bệnh truyền nhiễm, trong đó có sốt rét. Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TƯ đang có những phối hợp nghiên cứu về lĩnh vực này trong giám sát bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng với Trường Đại học Quốc gia (Khoa Địa lý); Viện Địa lý... PV: Xin cảm ơn PGS! TTC Trích từ _ Sức khoẻ & Đời sống
Nội dung mới:
Nội dung khác:
|